TIN VUI_ NCB vừa tung chính sách giảm lãi suất cho vay đối với cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) cũng như doanh nghiệp quy mô lớn ngay từ 10/8

TIN BUỒN là có hạ nhưng ko đáng kể thấp nhất cũng hơn 8,49%
Những vấn đề thuộc thế hệ tương lai (Gen Z ?)
Bài 1: Bàn về vấn đề “lời ông ăn, lỗ dân chịu”.
Thực tế cho thấy chánh sách kinh tế vĩ mô của VN dựa trên sự hi sinh lợi ích của số đông tầng lớp lao động và các doanh nghiệp nhỏ để tạo ra sự thịnh vượng cho một vài tập đoàn tư nhân cộm cáng, kiểu "Chaebol" của Hàn quốc. Vấn đề là mô hình phát triển kiểu này đã chạm đến giới hạn. Những đóng góp của các tập đoàn lớn cho quốc gia (đóng góp vào GDP), cho xã hội… không đủ để bù đắp cho những mất mát mà đất nước, nhân dân (hay những thế hệ tương lai) VN (sẽ) phải gánh chịu.
Trước hết chúng ta cần hiểu về hiện tượng “lời ông ăn, lỗ dân chịu”.
"Lời ông ăn, lỗ dân chịu" là cách diễn giải nôm na của hiện tượng "privatization of profits, socialization of losses" (tư nhân hóa lợi nhuận, xã hội hóa tổn thất). Hiện tượng này mô tả một tình trạng lệch lạc có hệ thống: khi làm ăn phát đạt, lợi nhuận thuộc về doanh nghiệp và cổ đông tư nhân; nhưng khi thất bại hoặc gặp rủi ro vỡ nợ, chi phí và tổn thất lại do toàn bộ xã hội (người dân, người nộp thuế) gánh chịu.
Đây là một hiện tượng gắn liền với vấn đề "rủi ro đạo đức" và mô hình "quá lớn để sụp đổ", điển hình trong nền kinh tế VN.
Tư nhân hóa lợi nhuận là gì?
Khái niệm này nói về giai đoạn thuận lợi của chu kỳ kinh doanh. Khi một doanh nghiệp hay tập đoàn tư nhân hoạt động nhờ tận dụng tài nguyên quốc gia, nhờ chánh sách ưu đãi, được trợ giúp hạ tầng công hoặc gúp đòn bẩy tài chánh cao, khi có lời thì toàn bộ phần lợi nhuận sẽ được chia cho một nhóm nhỏ gồm chủ sở hữu, cổ đông, và ban lãnh đạo (qua cổ tức, tăng giá cổ phiếu, tiền thưởng…).
Trong giai đoạn này doanh nghiệp nhân danh nguyên tắc "thị trường tự do" để phản đối sự can thiệp của nhà nước, phản đối việc đánh thuế cao hoặc siết chặt quản lý, khẳng định rằng lợi nhuận đó là phần thưởng chính đáng cho sự mạo hiểm và tài năng kinh doanh của họ.
Xã hội hóa tổn thất là gì?
Khái niệm này xảy ra khi rủi ro bùng phát, lúc doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng. Khi đòn bẩy nợ quá cao, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ vỡ nợ hoặc phá sản, hệ quả không chỉ dừng lại ở nội bộ doanh nghiệp. Sự sụp đổ đó đe dọa kéo theo hệ thống ngân hàng, làm gia tăng thất nghiệp hàng loạt hoặc gây đóng băng nền kinh tế. Để tránh thảm họa nhà nước buộc phải can thiệp bằng các công cụ công như:
Hoặc là sử dụng tiền thuế của dân hoặc ngân sách quốc gia để bơm tiền trực tiếp mua lại nợ xấu, tái thiết doanh nghiệp. Hoặc là in thêm tiền hoặc hạ lãi suất để cấp thanh khoảng, dẫn đến áp lực lạm phát, làm giảm sức mua thực tế của toàn bộ người dân. Hoạc phải hi sinh các nguồn lực công (như cấp thêm quĩ đất, nới lỏng chính sách, hoãn thuế) để giúp doanh nghiệp "có dòng tiền hạ nợ". (Hệ quả khủng hoảng thanh khoảng VN 2023).
Khi Ngân hàng Trung ương bơm tiền để giải cứu thanh khoảng cho hệ thống ngân hàng - doanh nghiệp lớn, lượng tiền trong lưu thông tăng lên. Hậu quả là lạm phát tăng, đồng tiền mất giá. Người dân gánh "chi phí giải cứu" này dưới dạng giá hàng hóa, thực phẩm, xăng dầu đắt đỏ hơn. (Khủng hoảng thanh khoảng ngân hàng VN 2023).
Khi nguồn lực quốc gia (tín dụng, đất đai, ưu đãi thuế) bị dồn quá nhiều để duy trì thanh khoản cho một vài tập đoàn lớn, các lãnh vực công ích như y tế, giáo dục, hạ tầng dân sinh hay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) sẽ bị thiếu hụt nguồn vốn phát triển.
Khi các tập đoàn BĐS đẩy giá nhà lên cao để thu lợi nhuận tối đa, đến khi thị trường đóng băng, nhà nước phải nới lỏng chánh sách để cứu thanh khoản. Kết quả là mặt bằng giá BĐS không thể giảm về mức hợp lý, người lao động mất cơ hội sở hữu nhà ở thực.
Trên đây là một lời cảnh báo đối với giàn lãnh đạo cấp cao. Một nền kinh tế thị trường lành mạnh phải tôn trọng nguyên tắc: Ai hưởng lợi nhuận thì người đó phải gánh chịu rủi ro.
(xem tiếp bài 2)