TỰ DO NGÔN LUẬN GIÁ 50 TRIỆU ĐỒNG?

Tác giả: Thành Trung
Khi mức phạt từ 30 đến 50 triệu đồng được áp dụng cho các hành vi bị cho là đăng tải hoặc chia sẻ thông tin “sai sự thật”, nhiều người không chỉ quan tâm đến nội dung của nghị định mà còn đặt câu hỏi về tính cân xứng giữa hình phạt và mức thu nhập thực tế của người dân.
 
 
Với mức lương bình quân của nhiều lao động chỉ dao động từ vài triệu đến hơn chục triệu đồng mỗi tháng, khoản phạt 50 triệu đồng có thể tương đương nhiều tháng, thậm chí cả năm tích lũy của một gia đình công nhân. Điều đó khiến không ít người cảm thấy rằng quyền được lên tiếng đang trở thành một rủi ro tài chính quá lớn đối với người dân bình thường.
 
Vấn đề nằm ở chỗ nhiều khái niệm như “gây hoang mang dư luận”, “ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan nhà nước” hay “xuyên tạc” thường gây tranh cãi trong cách diễn giải. Khi ranh giới giữa phản biện, chỉ trích và vi phạm không được xác định rõ ràng, người dân có xu hướng chọn giải pháp an toàn nhất: im lặng. Và đó chính là điều mà chế độ công an trị tại Việt Nam mong muốn hòng bịt miệng công dân.
 
Đó chính là điều mà nhiều chuyên gia truyền thông gọi là “hiệu ứng sợ hãi”. Không cần phải xử phạt hàng loạt, chỉ cần vài trường hợp bị phạt nặng cũng đủ khiến hàng triệu người tự kiểm duyệt bản thân. Khi đó, mạng xã hội không còn là nơi trao đổi ý kiến đa chiều mà dần trở thành không gian của những phát biểu vô thưởng vô phạt.
 
Một xã hội phát triển cần có cơ chế xử lý tin giả, nhưng cũng cần bảo vệ quyền phản biện và quyền chất vấn của công dân. Nếu hình phạt quá nặng so với thu nhập của người dân và thiếu các tiêu chí áp dụng minh bạch, niềm tin vào công lý và quyền tự do biểu đạt rất dễ bị ảnh hưởng.
 
Trong dài hạn, sự im lặng vì sợ hãi có thể gây tổn hại cho xã hội không kém gì những thông tin sai lệch mà luật pháp muốn ngăn chặn. Thậm chí khi bùng nổ sẽ bùng nổ dữ dội như đã từng xảy ra ở Tunisie, ở Ai Cập và nhiều quốc gia khác.
 
Đề xuất như vậy, dân nhìn vào lại tự đặt câu hỏi?
 
Năng lực quản trị của Quý Bộ có vấn đề gì sao? Sao lại đẩy qua cho người khác?
 
 
Rồi mỗi cá nhân không may bị, trộm, bị Hách lấy tk cá nhân... muốn trình báo với Quý Bộ, sợ bị phạt, thế là ko trình báo nữa. Bọn tội phạm càng tự tung tực tác. Như vậy chẳng phải là gián tiếp để cho an ninh mạng bất ổn sao.
 
PHẠT NGƯỜI DÂN VÌ "KHÔNG TỰ BẢO VỆ DỮ LIỆU": HỢP LÝ HAY ĐẨY TRÁCH NHIỆM?
 
Bộ Công an đang lấy ý kiến đóng góp đối với dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong đó, cơ quan soạn thảo đề xuất phạt tiền từ 50 - 70 triệu đồng đối với chủ thể dữ liệu không tự bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình.
 
 
Một câu hỏi lớn được đặt ra với trường hợp tưởng chừng như chỉ có "trong mơ" thế này là: người dân thực sự có khả năng và công cụ để tự bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình hay không?
 
Khi mà người dân không hề biết dữ liệu của mình nằm ở đâu, bị thu thập bởi những tổ chức nào và dược chia sẻ ra sao. Bởi ngay cả khi họ không đăng ký các dịch vụ lạ, không bấm vào liên kết đáng ngờ, thì tình trạng bị gọi điện quảng cáo, mời vay tiền, thậm chí bị lộ chính xác họ tên, địa chỉ vẫn diễn ra phổ biến.
 
Điều này cho thấy vấn đề không thể xuất phát từ người dân, nhưng họ đang phải chịu một mức phạt nặng nề cho thứ vượt ngoài khả năng kiểm soát của họ.
 
Người dân chủ yếu phải khai báo thông tin của mình với các ứng dụng cho nhà nước quản lý như VNeID để có thể tiếp cận dịch vụ công. Thế ra, có gì đảm bảo những thông tin của họ không bị rò rỉ từ những nguồn này? Và khi không có cơ chế minh bạch và kiểm chứng độc lập về độ an toàn của các hệ thông, thì việc chính quyền đi xử phạt người dân phải chăng đang đá quả bóng trách nhiệm về hướng đối diện?