Bài 5: Những vấn đề thuộc thế hệ tương lai (Gen Z ?)
Vấn đề “lời ông ăn, lỗ dân chịu” (bài 1 bis)
Trước khi giải thích vì sao VinFast là cái “lổ đen” hút sinh khí của một bộ phận lớn nhân dân lao động VN, sau đó là “giải ảo” tờ báo cáo tài chánh quí II 2026 của Vingroup, tôi xin phép được bàn chung quanh ý kiến của một bạn đọc: “Phân tích hay nhưng thiếu phần ve sầu thoát xác và ảo thuật bán đồ tay trái cho tay phải”.

Ý kiến như vậy có hai phần: 1/ “kim thiền thoát xác” và 2/ “ảo thuật tay trái bán đồ cho tay phải”.
Kế “kim thiền thoát xác” chắc phải là con ve, tức cục nợ 7 tỉ đô la từ VFS hải ngoài, thoát cái vỏ VFS rồi “bay” về VN, nhập vô một tập đoàn quốc nội mới thành lập, trong đó có ông Phạm Nhật Vượng. Còn màn “ảo thuật từ tay trái bán cho tay phải” là thủ thuật mở công ty mới GMS gọi là tay phải, sau đó tay trái là Vinfast bán hàng trăm ngàn chiếc “xe xanh” cho công ty này để cạnh tranh với xe ôm và Taxi truyền thống.
Về kế “kim thiền thoát xác”. Cục nợ 7 tỉ đô la sẽ được “thấm vào đất" và "dàn trải cho dân gánh qua các hiện tượng lạm phát và thất nghiệp. “Kế” này thuần tuý kế toán và quản trị tài chánh.
Khi nhà nước phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc giao cho doanh nghiệp một đại dự án BĐS (như Hải Vân Bay), giá trị của doanh nghiệp trên giấy tờ và trên thị trường chứng khoán lập tức tăng vọt. Quĩ đất hoặc quyền phát triển dự án này sẽ được ghi nhận vào bảng cân đối kế toán dưới dạng tài sản.
Khi tài sản (quĩ đất/dự án) tăng lên, tỉ lệ nợ/tài sản (Debt-to-Assets) hoặc nợ/vốn chủ sở hữu (D/E) của doanh nghiệp lập tức trông có vẻ "an toàn hơn". Doanh nghiệp dùng chính dự án/quỹ đất mới này làm tài sản thế chấp để: 1/Vay thêm các khoản nợ mới từ ngân hàng. 2/Phát hành các đợt trái phiếu doanh nghiệp mới. 3/ Đảo nợ (dùng nợ mới trả nợ cũ đến hạn).
Hệ quả là nợ cũ (cục nợ 7 tỉ) không biến mất, mà được "phủ" lên một lớp tài sản mới (đất đai/dự án). Doanh nghiệp có thêm thời gian (thở) và không gian tài chánh để duy trì vòng quay đòn bẩy.
Câu hỏi là: Ai là người gánh chịu chi phí cho vòng quay đòn bẩy này?
Trong kinh tế học, rủi ro và chi phí tài chánh của các tập đoàn quá lớn (Too Big to Fail) thường được dịch chuyển sang xã hội thông qua các kênh gián tiếp:
Thứ nhứt là kênh lạm phát và giá nhà (Asset Inflation). Để trả khoản nợ khổng lồ và chi phí lãi vay tích tụ qua nhiều năm, doanh nghiệp bắt buộc phải bán BĐS với giá rất cao (phân khúc cao cấp, hạng sang) để duy trì biên lợi nhuận.
Việc đẩy giá đất/giá nhà ở các đại dự án lên mức hàng chục, hàng trăm triệu đồng/m² tạo ra hiệu ứng "vết dầu loan", kéo mặt bằng giá BĐS xung quanh và toàn thị trường tăng theo.
Khi giá nhà đất tăng quá nhanh so với thu nhập, người dân mất khả năng tiếp cận nhà ở thực, chi phí thuê mặt bằng kinh doanh tăng vọt. Sự tăng giá tài sản này chính là một hình thức lạm phát ngầm, làm giảm sức mua thực tế của dòng tiền trong xã hội.
Thứ hai là kênh tín dụng và chi phí vốn của nền kinh tế. Khi một tập đoàn BĐS lớn tiêu tốn hàng trăm ngàn tỉ đồng tín dụng và trái phiếu, nguồn vốn xã hội bị hút về một chỗ.
Hậu quả làm cho các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo, công nghệ nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn hơn, hoặc phải chịu lãi suất vay cao hơn. Khi khu vực sản xuất kinh doanh thực sự bị thiếu vốn, khả năng mở rộng sản xuất suy giảm, dẫn đến nguy cơ suy giảm việc làm (thất nghiệp) ở khu vực kinh tế tư nhân nhỏ.
Thứ ba là rủi ro Hệ thống Ngân hàng. Ngân hàng thương mại là bên nhận thế chấp các dự án BĐS này. Nếu dòng tiền BĐS bị tắc nghẽn dài hạn, các khoản nợ BĐS có nguy cơ chuyển thành nợ xấu.
Để giải quyết nợ xấu và bảo vệ thanh khoản ngân hàng, nhà nước có thể phải áp dụng các chánh sách nới lỏng tiền tệ, bơm thanh khoản hoặc hạ lãi suất để "cứu" hệ thống. Việc gia tăng lượng tiền trong lưu thông để giải quyết các vết nứt tài chính cuối cùng cũng sẽ đổ dồn thành áp lực lạm phát tiền tệ mà toàn dân phải gánh chịu.
Ta thấy nhà nước lọt vô bẫy "nuốt vô thì mắc nghẹn mà nhả ra thì sụp đổ". Nếu ngưng cấp cơ chế/dự án (Hải Vân Bay), cứ để Vinfast tự xoay sở với cục nợ 7 tỉ đô la. Vingroup có thể lâm vào cảnh vỡ nợ ngay lập tức. Cú sụp đổ đó sẽ kéo theo hệ thống ngân hàng, thị trường trái phiếu và hàng trăm ngàn lao động mất việc. Do đó, cho dầu đau đớn, nhà nước phải chấp nhận lựa chọn "dàn trải rủi ro theo thời gian" (gia hạn, cấp thêm dự án để tự làm sạch bảng cân đối) để giữ an toàn cho nền kinh tế.
Từ thí dụ này ta thấy một thực tế “lời ông ăn, lỗ dân chịu” là chuyện “có thật”, như bài 1 của loạt bài này đã chỉ ra.
Về thủ thuật “tay trái bán cho tay phải”. Bài tôi viết về Vingroup năm ngoái có dẫn:
Theo BBC (12-4-2024): “VinFast cho biết khoảng 70% lượng xe bàn giao trong năm ngoái là cho khách hàng Green SM (GSM), nhà điều hành taxi và cho thuê xe điện mà ông Vượng sở hữu 95%. Ngoài doanh thu bán ô tô và xe máy điện trị giá 839 triệu USD cho GSM, VinFast còn có hợp đồng bán xe điện trị giá 57 triệu USD với Vinhomes, hợp đồng bán xe điện trị giá 1 triệu USD với Vingroup và xe buýt điện trị giá 7 triệu USD cho VinBus”...
Bài viết trên CafeF ngày 7-1-2025 : “VinFast đã ghi nhận doanh số khoảng 67.000 xe tại Việt Nam trong 11 tháng đầu năm… Chỉ sau hơn 1 năm ra mắt, thương hiệu taxi Việt đã gần như "phủ xanh" mọi tỉnh thành, có 70.000 xe đang lưu hành và phục vụ hàng triệu lượt mỗi ngày.”
Con số tăng trưởng 192% nói trên hầu hết đến từ thị trường nội địa.
Vinfast đã có những ưu điểm như sau: Thứ nhứt, tay phải (Vinfast) bán cho tay trái (Taxi Xanh của Vingroup). Thứ hai, các chính sách của nhà nước như hạn chế để tiến tới việc cấm xe máy chạy xăng/dầu tại các khu vực thuộc Hà nội và Sài gòn. Điều này giúp Vinfast mở rộng thị trường nộ địa về xe điện. Thứ ba Vinfast đươc ưu đãi về thuế má như miễn thuế đồ phụ tùng nhập khẩu. Thứ tư, ngân hàng nhà nước (Vietinbank, Vietcombank…) cho khách hàng mua xe Vinfast vay với lãi suất thấp…
Hết dẫn.
Theo bản Báo cáo tài chánh quí II 2006 của Vingroup ta có số liệu:
Sản xuất Công nghiệp (VinFast, VinES) : Doanh thu sản xuất Quí II 2026: Đạt 33.427 tỷ đồng, tăng trưởng 93% so với năm trước (YoY). Sản lượng bàn giao:
Xe hơi điện: Lũy kế 6 tháng đạt 128.662 xe toàn cầu (+78% YoY). Riêng thị trường nội địa đạt 115.916 xe (+72%), củng cố vị trí số 1 thị phần ô tô điện tại Việt Nam (chiếm 6/10 mẫu xe bán chạy nhất toàn thị trường).
Xe máy điện: Bàn giao 429.175 xe trong 6 tháng, gấp 3,7 lần cùng kỳ năm 2025.
Vấn đề là sự phát triển của mô hình “hệ sinh thái khép kín - all-in-one” của Vingroup đã trở thành môt sự chèn ép sinh kế cho tầng lớp lao động tự do. Các ngành dịch vụ cơ bản của Vingroup đã trực tiếp giết chết không gian sinh tồn của lực lượng lao động.
Ta thấy cuộc chiến bất đối xứng giữa Taxi, xe ô truyền thống với Taxi và Xe ôm công nghệ (Xanh SM).
Tầng lớp tài xế taxi truyền thống, xe ôm công nghệ (Grab, Be, Gojek...) phần lớn là những người lao động nghèo, người mất việc ở các nhà máy chuyển sang chạy xe để kiếm sống qua ngày. Khi Xanh SM ra đời với tiềm lực tài chính khổng lồ, được trợ giá, họ sẵn sàng bù lỗ để chiếm lĩnh thị phần, đẩy giá cước xuống nhằm đánh bạt đối thủ. Hậu quả là hàng vạn tài xế cá thể bị sụt giảm thu nhập nghiêm trọng, rơi vào cảnh bấp bênh khi không thể cạnh tranh nổi với một tập đoàn có tiềm lực xe điện tự sản xuất.
Điều tệ hại là nhà nước đứng về phe Vingroup, ra những điều luật khắt khe về môi trường để cản trở các xe gắn máy chạy xăng vào thành phố.
Ta cũng thấy cuộc chiến bất đối xứng giữa mạng lưới bán lẻ và dịch vụ vừa/nhỏ. Các đại siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại đặt tại các khu dân cư đã dần thế chỗ các chợ truyền thống, các tiệm tạp hóa gia đình và các doanh nghiệp bán lẻ nội địa.
Thay vì tạo ra một tầng lớp doanh nhân tư nhân vừa và nhỏ đa dạng (xương sống của một nền kinh tế bền vững như tại Đài Loan hay Đức), mô hình này biến hàng triệu người thành lao động làm thuê phụ thuộc hoàn toàn vào một vài ông chủ lớn.
Từ hai thí dụ này ta thấy rõ VN là một nền kinh tế tăng trưởng dựa trên việc hy sinh lợi ích của số đông tầng lớp lao động và các doanh nghiệp nhỏ để tạo ra sự thịnh vượng tập trung cho một vài tập đoàn tư nhân thống lĩnh.